Trong lĩnh vực xây dựng, hợp đồng xây dựng là công cụ pháp lý quan trọng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia dự án. Tuy nhiên, để soạn thảo và thực hiện hợp đồng đúng quy định pháp luật, cần xác định rõ các văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng xây dựng. Theo phân tích của GS.TS Đỗ Văn Đại – chuyên gia đầu ngành về pháp luật dân sự, việc xác định pháp luật điều chỉnh phải dựa trên nguyên tắc ưu tiên luật chuyên ngành và vận dụng luật chung một cách phù hợp.
1. Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự đặc thù
Theo Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng dân sự, nhưng do có tính chất đặc thù (liên quan đến thiết kế, thi công, giám sát, bảo hành…) nên được điều chỉnh bởi cả luật chung và luật chuyên ngành.
2. Các văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng xây dựng
a) Bộ luật Dân sự 2015
Là văn bản nền tảng điều chỉnh chung mọi quan hệ hợp đồng dân sự, bao gồm hợp đồng xây dựng. Bộ luật quy định nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận, bình đẳng và tôn trọng thiện chí, trung thực của các bên (Điều 3, Điều 385, Điều 399...).
b) Luật Xây dựng 2014 (sửa đổi 2020)
Đây là luật chuyên ngành, điều chỉnh toàn bộ hoạt động đầu tư xây dựng, trong đó có quy định riêng về hợp đồng xây dựng (Chương VI). Luật quy định rõ:
-
Các loại hợp đồng xây dựng (tư vấn, thi công, chìa khóa trao tay, EPC...),
-
Nguyên tắc ký kết và quản lý hợp đồng,
-
Trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.
c) Nghị định 37/2015/NĐ-CP
Nghị định này hướng dẫn chi tiết nội dung của hợp đồng xây dựng: từ phạm vi công việc, giá hợp đồng, điều kiện thanh toán, tạm ứng, nghiệm thu, xử lý vi phạm, chấm dứt hợp đồng... đến thủ tục ký kết. Đây là cơ sở quan trọng cho cả bên mời thầu và bên nhận thầu khi đàm phán và thực hiện hợp đồng.
3. Quan điểm của GS.TS Đỗ Văn Đại về xác định pháp luật điều chỉnh
GS.TS Đỗ Văn Đại phân tích rằng:
“Khi có luật chuyên ngành thì luật này điều chỉnh trước. Chỉ trong trường hợp không có điều chỉnh cụ thể thì mới áp dụng luật chung.”
Điều này có nghĩa:
-
Luật Xây dựng và Nghị định hướng dẫn là ưu tiên số một để giải quyết các vấn đề trong hợp đồng xây dựng.
-
Không áp dụng Luật thương mại, áp dụng Bộ luật dân sự, khi luật chuyên ngành không có quy định cụ thể hoặc trong các vấn đề về hiệu lực, vô hiệu, trách nhiệm dân sự...
Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc tự do thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật, đặc biệt trong bối cảnh thực tiễn các loại hợp đồng tổng thầu, EPC, hợp đồng có yếu tố nước ngoài ngày càng phổ biến.
4. Lưu ý thực tiễn khi áp dụng pháp luật điều chỉnh
-
Khi xây dựng hợp đồng, cần xác định đúng loại hợp đồng và các văn bản pháp lý áp dụng, tránh áp dụng sai hoặc bỏ sót quy định bắt buộc.
-
Trong trường hợp có yếu tố nước ngoài, điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận về luật áp dụng có thể được ưu tiên.
-
Việc trích dẫn và lập luận theo hướng của GS.TS Đỗ Văn Đại có giá trị học thuật và thực tiễn cao, đặc biệt trong giải quyết tranh chấp tại tòa án hoặc trọng tài.
_________________________________________
JUSTEPS - PHÁP LÝ DOANH NGHIỆP
Zalo/SĐT: 096 172 2607
Email: info@justepslegal.com
Page: https://web.facebook.com/justepslegal/
Web: https://justepslegal.com/


